Phụ phí THC

(Terminal Handling Charge)

THC - Phụ phí xếp dỡ tại cảng là khoản phụ phí thu trên mỗi container để bù đắp chi phí cho các hoạt động làm hàng tại cảng, như: xếp dỡ, tập kết container từ CY ra cầu tàu...


Trước năm 1990, các hãng tàu container thường tính giá cước gộp cho tất cả các chi phí vận chuyển, xếp dỡ và các chi phí liên quan khác. Sau đó, hầu hết các hãng tàu đã tách riêng cước biển và THC, với hai mục đích.Thực chất cảng thu hãng tàu phí xếp dỡ và các phí liên quan khác, và hãng tàu sau đó thu lại từ chủ hàng (người gửi hoặc người nhận hàng) khoản phí gọi là THC.

Thứ nhất, việc tách THC khỏi cước biển giúp tăng tính minh bạch của các khoản phí vận tải, theo đó đó chủ hàng có thể biết được họ phải trả bao nhiêu cho hãng tàu và bao nhiêu cho việc làm hàng tại cảng xếp và cảng dỡ.

Thứ hai, việc tách riêng phí THC giúp bảo vệ các hãng tàu tránh được ảnh hưởng của sự biến động tiền tệ, vì chi phí xếp dỡ tại cảng do các công ty khai thác cảng tính thường được trả bằng tiền địa phương, trong khi cước biển được tính theo đồng đô la Mỹ.

Cước phí vận tải tàu chợ đã bao gồm phí xếp dỡ. Vì vậy, cũng có thể thắc mắc rằng tại sao lại thu thêm phụ phí xếp dỡ. Thực ra, đây chỉ là việc tách ra hay gộp một khoản phí mà hãng tàu gọi là THC.

Lấy ví dụ, giả sử cước biển all-in từ Hải Phòng đi Singapore là 200USD; nếu thu phí THC 60USD, thì cước biển sẽ chỉ là 140USD. Về tổng số chi phí mà hãng tàu thu được (và chủ hàng phải trả) là như nhau. Nhưng việc tách riêng như vậy, ít ra về lý thuyết, sẽ giúp chủ hàng biết phải trả cho mỗi bên bao nhiêu chi phí.

Trên thực tế, nhiều nhà xuất khẩu phàn nàn rằng các hãng tàu bằng việc thu phí THC đã đẩy rủi ro thương mại sang cho họ, và rằng có chênh lệch lớn giữa số tiền THC thu được từ khách hàng so với số tiền hãng tàu thực tế phải trả cho cảng.

Nghi ngờ trên cũng là điều dễ hiểu bởi không hãng tàu nào công bố chính thức họ phải trả cho cảng cụ thể bao nhiêu chi phí cho một container.

Thu phí THC ở Việt Nam

Ở Việt Nam, các hãng tàu quốc tế bắt đầu áp dụng việc thu phí THC (đúng hơn là tách THC khỏi cước biển) từ giữa năm 2007, với thời gian áp dụng khác nhau cho các hãng tàu.

Đầu tiên là Hiệp hội Các hãng tàu Viễn Đông (FEFC), dù không thông qua đàm phán với Việt Nam, đã đơn phương thông báo áp dụng thu THC từ 1/5/2007.

Tiếp theo đó, Hiệp hội Cước biển Đỏ (IRFA) cũng thông báo áp dụng việc tách THC ở Việt Nam từ 1/7/2007 với mức phí cũng giống như FEFC là 65USD/TEU và 98 USD/FEU. Mức phí này từ 1/8/2008 đã được tăng lên 85 USD/TEU và 115 USD/FEU.

Cùng trong khoảng thời gian này, Hội hiệp thương Các chủ tàu nội Á (IADA) cũng tiến hành đàm phán với Hội đồng đàm phán phí xếp dỡ container (THC) Việt Nam về việc tách THC khỏi cước biển. Thời gian áp dụng IADA đưa ra là từ ngày 1/6/2007. Mức áp dụng ban đầu có thể 50/USD container 20 feet và 75 USD/container 40 feet và từ 1/1/2008 sẽ thực hiện 60 USD/container 20 feet và 90 USD/container 40 feet.

Để hiểu rõ hơn bản chất của phụ phí THC, có thể tham khảo Bảng các chi phí cấu thành của THC tại Việt Nam do IADA đưa ra như sau.

TTKhoản mụcGiá (USD)
20’40’
1Lưu container rỗng tại bãi cảng, sau khi dỡ từ tàu/xe tải hoặc sau khi người nhập khẩu trả vỏ rỗng, để cấp cho người xuất khẩu.1015
2Kiểm tra và báo cáo thông tin về chì niêm phong của container hàng tại cổng cảng11
3Lập kế hoạch và báo cáo tình hình tại hiện trường và tại văn phòng về các hoạt động container hàng tại cảng

11
4Sắp xếp container có hàng tại cảng00
5Lưu container hàng tại cảng sau khi hạ hàng cho tới khi xếp lên tàu, hoặc từ khi dỡ hàng khỏi tàu đến khi hàng được kéo ra khỏi cảng.23
6Dỡ/Xếp container hàng từ/xuống tàu5785
7Dỡ/Xếp vỏ container từ/xuống tàu1015
8Chi phí làm việc ngoài giờ hoặc thêm giờ liên quan đến các dịch vụ trên00
9Chằng buộc / Tháo chằng buộc11
10Kiểm đếm00
11Chi phí cầu bến00
TỔNG82121

Việc áp dụng thu phí THC ở Việt Nam cũng gặp phản ứng mạnh mẽ từ Hội đồng đàm phán phí xếp dỡ container (THC) Việt Nam, gồm đại diện của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cùng 7 Hiệp hội có nhiều hàng hoá xuất nhập khẩu bằng container của Việt Nam là Hiệp hội Dệt may, Hiệp hội Da giày, Hiệp hội Thuỷ sản, Hiệp hội Cây điều, Hiệp hội Cà phê-Ca cao, Hiệp hội điện tử, Hiệp hội Chè.

Theo quan điểm từ phía chủ hàng Việt Nam, việc thu phí THC làm tăng chi phí cho các nhà xuất khẩu. Tuy nhiên các chủ tàu lại cho rằng, khi tách THC ra khỏi giá cước vận chuyển container, hãng tàu thực tế đã tiến hành giảm giá cước vận tải biển, và do đó sẽ không ảnh hưởng đến chủ hàng.

Dù quan điểm qua lại có khác nhau nhưng các chủ tàu vẫn áp dụng THC tại Việt Nam như thông lệ quốc tế. Đến nay, hầu hết các hãng tàu tại Việt Nam đều thu phí THC tách khỏi cước biển đối với hàng xuất nhập khẩu.

Với hàng container vận chuyển nội địa, hiện vẫn áp dụng cước gộp (all-in), mặc dù cũng đã có đề xuất tách các phụ phí trong đó có THC ra khỏi cước biển, tương tự như đối với hàng xuất nhập khẩu.

    

Nâng cao hiệu quả công tác phân tích, phân loại, kiểm định tại Hải Phòng

Chi cục Kiểm định Hải quan 2 (Cục Kiểm định Hải quan) và Cục Hải quan Hải Phòng vừa ký quy chế phối hợp trong công tác phân tích, phân loại và kiểm định hải quan đối với hàng hoá XNK qua địa bàn Hải Phòng.

Chi cục Kiểm định Hải quan 2 là đơn vị trực thuộc Cục Kiểm định Hải quan, đứng chân trên địa bàn TP. Hải Phòng có chức năng nhiệm vụ phân tích, kiểm định hàng hóa XNK trên địa bàn TP. Hải Phòng. Với chức năng đó, Chi cục Kiểm định Hải quan 2 đã được đầu tư đầy đủ trang thiết bị, cơ sở vật chất. Đặc biệt, hiện nay Chi cục đã được đầu tư Trạm kiểm định di động VILAS phục vụ công tác kiểm định một cách linh hoạt ngay tại cửa khẩu.

nang cao hieu qua cong tac phan tich phan loai kiem dinh tai hai phong
Quang cảnh lễ ký kết. Ảnh: Hải Hà

Chi cục Kiểm định Hải quan 2 cũng đảm bảo công tác thu đúng, thu đủ thuế vào ngân sách Nhà nước và tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, công bằng, lành mạnh giữa các DN.

Theo ông Đỗ Văn Quang, Cục trưởng Cục Kiểm định Hải quan, hàng năm Cục Kiểm định Hải quan tiếp nhận xử lý hơn 18.000 mẫu, làm thay đổi khoảng 40% số mẫu khai báo, đảm bảo công tác thu đúng, thu đủ thuế. Riêng đối với công tác kiểm định, đơn vị kiểm tra hàng hóa XNK bằng trang thiết bị kỹ thuật và các biện pháp nghiệp vụ để đối chiếu, xác định thực tế hàng hóa với nội dung khai báo hải quan và các nội dung theo quy định của pháp luật hải quan; xác định hàng hóa có đủ điều kiện XNK theo quy định của pháp luật chuyên ngành nhằm mục đích kiểm tra hải quan.

Để nâng cao hơn nữa công tác phối kết hợp giữa các lực lượng và làm tốt hơn công tác phân tích, phân loại, hạn chế vướng mắc phát sinh, Cục Hải quan Hải Phòng và Cục Kiểm định Hải quan đã xây dựng quy chế phối hợp với nguyên tắc tuân thủ các quy định của pháp luật và tôn trọng chức năng, nhiệm vụ hai bên trong quá trình phối hợp; tăng cường trao đổi thông tin, đảm bảo đầy đủ, chính xác, kịp thời, nhằm rút ngắn thời gian phân tích, kiểm định để thông quan hàng hóa theo quy định; giảm tối thiểu và thống nhất xử lý các vướng mắc phát sinh, đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ được giao hiệu quả, tạo thuận lợi cho hoạt động XNK qua địa bàn.

Ông Đỗ Văn Quang kỳ vọng công tác phối hợp giữa Cục Hải quan Hải Phòng và Cục Kiểm định Hải quan tiếp tục được gắn kết, phát triển và thu được nhiều kết quả tích cực trong công tác phân tích, phân loại, kiểm định hàng hóa XNK nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động XNK và chống buôn lậu, gian lận thương mại, vi phạm sở hữu trí tuệ qua địa bàn Hải Phòng.

Cũng theo ông Nguyễn Sỹ Tráng, Phó Cục trưởng Cục Hải quan Hải Phòng cho biết, trong những năm qua hoạt động XNK hàng hóa qua địa bàn Hải Phòng có sự phát triển đột biến. Thực tế trong quá trình thực hiện công tác quản lý nhà nước về hải quan tại địa bàn TP. Hải Phòng nói riêng và toàn ngành nói chung, tình trạng DN khai báo sai mã số hàng hóa XNK còn nhiều và còn có trường hợp có tính chất gian lận thương mại.

Với khối lượng hàng hóa XNK qua các cửa khẩu của Hải Phòng ngày càng lớn, theo ông Nguyễn Sỹ Tráng, việc Cục Hải quan Hải Phòng và Cục Kiểm định Hải quan phối hợp thông tin nhằm tạo điều kiện tối đa cho hoạt động của DN trong XNK hàng hóa và để phân loại mã số để đảm bảo thu đúng, thu đủ, tránh thất thu cho NSNN là việc làm hết sức cần thiết. Cũng qua đó, nâng cao công tác chỉ đạo của ngành Hải quan trong việc phối hợp với các địa phương nói chung và TP. Hải Phòng nói riêng, là tiền đề cho Chi cục Kiểm định Hải quan 2 hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Đảo Lê

    

Nhiều mối lo khi FDI từ Trung Quốc vào ngành gỗ tăng vọt

Thời gian gần đây, đầu tư FDI từ Trung Quốc vào ngành chế biến, xuất khẩu gỗ tăng nhanh, đặc biệt trong các tháng đầu của năm 2019 với các dự án quy mô nhỏ, đặt ra không ít lo ngại.

Báo cáo nghiên cứu: “Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung: Cơ hội và rủi ro cho ngành gỗ Việt Nam” (được thực hiện bởi Tổ chức Forest Trends, Hiệp Hội Gỗ Lâm Sản Việt Nam, Hiệp Hội Gỗ và Lâm sản Bình Định, Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP. HCM và Hiệp hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương) công bố tại Hội thảo “Tác động cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đối với ngành gỗ Việt Nam: Chuyển dịch đầu tư nước ngoài, cơ hội và rủi ro trong xuất nhập khẩu” vừa diễn ra tại Hà Nội cho thấy, trong 5 tháng đầu năm 2019, số dự án FDI mới đầu tư vào ngành gỗ là 49 dự án, tương đương 73% số dự án FDI của cả năm 2018. Tổng số vốn FDI đầu tư trong 5 tháng 2019 tăng gấp gần 1,2 lần tổng số so với đầu tư FDI của cả năm 2018.

Trước dòng vốn dịch chuyển bất thường từ Trung Quốc vào ngành gỗ Việt Nam, ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TP. Hồ Chí Minh (HAWA) cho rằng, đã có sự dịch chuyển đầu tư của Trung Quốc sang các quốc gia xung quanh như Ấn Độ và các nước trong khu vực ASEAN, do tác động từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung. “Chính vì thế, các doanh nghiệp ngành gỗ cần hết sức tỉnh táo để xem đâu là cơ hội có thể mở rộng và đâu là rủi ro tiềm ẩn.

Các doanh nghiệp gỗ trong nước không sợ doanh nghiệp lớn của Trung Quốc dịch chuyển, vì điều đó khá khó khăn khi doanh nghiệp của họ đang sở hữu cả chuỗi sản xuất, nếu dịch chuyển chi phí sẽ lớn. Một số doanh nghiệp Trung Quốc sẽ dịch chuyển với quy mô nhỏ và mức đầu tư không lớn vào Việt Nam nên các doanh nghiệp trong nước có thể lựa chọn phương án điều chỉnh, cân đối sản xuất để vẫn có thể có lãi”, ông Hạnh nói.

Đứng từ góc độ cơ quan quản lý, đại diện Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cũng lưu ý đến các hoạt động đầu tư hợp tác của doanh nghiệp trong ngành gỗ. Theo đó, các cơ quan quản lý luôn ủng hộ các DN làm ăn chân chính, bài bản và tận dụng cơ hội hợp tác, tẩy chay những doanh nghiệp làm ăn không chân chính, chụp giật chạy theo những lợi ích trước mắt.

Nhóm nghiên cứu kiến nghị, các cơ quan quản lý cần có đánh giá tổng thể về các loại hình rủi ro trong cả các dự án đầu tư FDI và trong các sản phẩm xuất khẩu. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cũng cần có các đánh giá tình trạng thực tế về các doanh nghiệp ngoại, đặc biệt các doanh nghiệp của Trung Quốc thuê máy móc, thiết bị, nhà xưởng và nhân công của Việt Nam để sản xuất các sản phẩm phục vụ xuất khẩu…

Để làm được việc này, các cơ quan chức năng Trung ương cần phối hợp với các cơ quan địa phương, nhằm rà soát tổng thể các hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN FDI trong ngành trong thời gian vừa qua.

Trân Trân
    

Nông sản Việt vượt rào cản, sang Trung Quốc

Từ tháng 6-2019, các mặt hàng nông lâm thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc phải đi bằng đường chính ngạch và tuân thủ các quy định khắt khe hơn trước

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) Trần Thanh Nam, Trung Quốc ngày càng siết chặt các cửa khẩu tiểu ngạch, có nơi còn rào lại để ngăn hàng mậu biên. Do đó, doanh nghiệp (DN) phải chuyển hướng sang xuất khẩu chính ngạch, bảo đảm chất lượng hàng hóa, truy xuất nguồn gốc và nhãn mác bao bì do Trung Quốc yêu cầu.

Yêu cầu tương tự Nhật Bản, Úc

Những quy định này tương tự như các thị trường Mỹ, Nhật Bản, Úc, Canada,… mà lâu nay các DN xuất khẩu đã thực hiện. Hiện Trung Quốc là thị trường lớn với khoảng 1,4 tỉ dân, nhu cầu nhập khẩu nông lâm thủy sản ngày càng tăng. Theo Thứ trưởng Trần Thanh Nam, Việt Nam có lợi thế gần về địa lý, thị hiếu tiêu dùng nên DN cần tận dụng khai thác thị trường này.

Nông sản Việt vượt rào cản, sang Trung Quốc - Ảnh 1.

Trái cây là mặt hàng của Việt Nam được ưa chuộng ở Trung Quốc Ảnh: NGỌC ÁNH

Theo thỏa thuận của Việt Nam và Trung Quốc, từ tháng 6-2019, các mặt hàng nông lâm thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc phải đi bằng đường chính ngạch và tuân thủ các quy định về chất lượng, truy xuất nguồn gốc.

Ông Đào Việt Anh, Tham tán thương mại Việt Nam tại Trung Quốc, thông tin năm 2018, giá trị thương mại 2 chiều Việt Nam - Trung Quốc đạt 147,8 tỉ USD, tăng 21,2% so với năm 2017. Trung Quốc liên tục 15 năm liên tiếp là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc tại khu vực ASEAN, là đối tác thương mại thứ 8 trên toàn thế giới.

Đáng lưu ý, nhóm nông lâm thủy sản ngày càng trở thành trụ cột, góp phần giảm nhập siêu từ Trung Quốc. Năm 2018, kim ngạch xuất nhập khẩu 2 chiều Việt Nam - Trung Quốc của nhóm này đạt gần 12 tỉ USD, riêng Việt Nam xuất khẩu khoảng 8,3 tỉ USD. Năm 2018, Trung Quốc nhập 79,7 tỉ USD nông sản và xu hướng nhập ngày càng tăng.

Nhiều nhóm hàng của Việt Nam đã chiếm lĩnh và khai thác hiệu quả thị trường Trung Quốc như: rau quả (2,7 tỉ USD), trà (19,6 triệu USD), cà phê (19,6 triệu USD),… Nhiều sản phẩm và thương hiệu Việt Nam được phân phối tại các siêu thị lớn của Trung Quốc và được người tiêu dùng nước này ưa chuộng như: thanh long Hoàng Hậu, cà phê Trung Nguyên, trái cây sấy Đức Thành (thương hiệu của Vinamit), bánh pía Sóc Trăng,…

Khó trước mắt, lợi lâu dài

Ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN-PTNT), nhấn mạnh Trung Quốc là thị trường truyền thống của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam và là thị trường tiềm năng trong thời gian tới. DN cần nhận thức Trung Quốc là thị trường tiềm năng và việc Trung Quốc yêu cầu phải xuất khẩu chính ngạch không phải là rào cản mà chỉ là sự điều chỉnh theo thông lệ quốc tế khi hội nhập.

Trong quý I/2019, xuất khẩu nông sản có sự suy giảm nhưng đã quay lại bức phá từ tháng 4 khi DN dần quen với quy định mới. Đơn cử như vùng vải thiều Lục Ngạn (Bắc Giang), 100% vùng trồng đã được cấp mã số vùng trồng, DN đã nắm được quy định về bao bì, tem nhãn, truy xuất nguồn gốc nên xuất khẩu rất tốt sang Trung Quốc.

"Thực tế trên cho thấy nông sản Việt Nam có thể chuyển mình để thích ứng với quy định mới của thị trường. Đồng thời, DN tiếp tục đầu tư nâng cao giá trị nông sản bằng các sản phẩm chế biến tinh, chế biến sâu để giải quyết rào cản kỹ thuật khi xuất khẩu sản phẩm thô" - ông Toản phân tích.

Ông Nguyễn Khắc Huy - Giám đốc Công ty TNHH Hoàng Phát Fruit (Long An), chuyên xuất khẩu trái cây tươi sang thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản - cũng đánh giá việc Trung Quốc siết chặt nhập khẩu nông sản sẽ giúp nâng cao trình độ sản xuất của nông dân Việt Nam. Theo ông Huy, khó khăn ban đầu là không tránh khỏi nhưng điều này tốt cho ngành trái cây Việt Nam, DN sẽ có nhiều nguyên liệu phục vụ đa dạng các thị trường trên thế giới.

Tương tự, với ngành thủy sản, ông Trương Đình Hòe, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), cũng nhìn nhận việc xuất khẩu chính ngạch giúp hoạt động xuất khẩu bền vững. Theo ông Hòe, mua bán chính ngạch theo thông lệ quốc tế do DN Việt Nam thực hiện trực tiếp, không qua trung gian giúp bảo đảm chất lượng và đi sâu vào hệ thống phân phối chính thức của Trung Quốc.

Bảo vệ thương hiệu

Hiện nay, có nhiều cách để bán hàng qua Trung Quốc, từ bán cho thương nhân trong nước hoặc bán cho thương nhân ở biên giới; bán cho nhà phân phối hoặc bán thẳng vào hệ thống siêu thị nước này. Trong đó, các chuyên gia cho rằng hướng đi căn cơ nhất để đưa hàng Việt vào thị trường này là theo đường chính ngạch, đặc biệt với các DN trẻ, khởi nghiệp vì đây là bài toán căn cơ để cạnh tranh, tồn tại. Và dù theo cách nào, DN Việt cũng cần chú trọng bảo vệ thương hiệu của mình ở thị trường trong nước và nước ngoài.

Nhiều DN khởi nghiệp có nhu cầu bán hàng qua Trung Quốc nhưng không biết đưa hàng chính ngạch qua kênh nào, bán hàng trực tiếp vào siêu thị nội địa ra sao. Hiện một số hệ thống sàn thương mại điện tử, bán hàng trực tuyến như Alibaba có thể mua hàng trực tiếp tại Việt Nam mà DN không cần mở văn phòng ở Trung Quốc. Việc tiếp cận các kênh trực tuyến ngày càng phổ biến trong bối cảnh những tập đoàn có xu hướng tiếp cận trực tiếp nguồn hàng tại các quốc gia. Dù vậy, DN cũng cần tìm hiểu kỹ về thủ tục, phải mua dịch vụ marketing cho hàng hóa của mình và phải gửi hàng về kho ngoại quan của các sàn thương mại điện tử…

Ngoài ra, sự khác biệt về mô hình quản lý bán hàng, về giá cả, bao bì, dịch vụ… cũng cần được phân tích và nghiên cứu kỹ trước khi thâm nhập thị trường Trung Quốc vì những điều trên có mối quan hệ mật thiết đến chiến lược bán hàng, quản lý tại thị trường này.

Theo các DN, thức ăn vặt đang được đánh giá là một xu hướng tiêu dùng nhanh trên thế giới, đặc biệt tại Trung Quốc. Các loại ngũ cốc (rang, chiên dầu, chiên phồng), hạt rang, chế phẩm từ đậu, trái cây khô, mứt, thủy hải sản khô, thịt khô… đang được tiêu thụ mạnh tại Trung Quốc.

Tỉ lệ tăng trưởng toàn ngành thức ăn vặt Trung Quốc trung bình đạt 3,58%/năm. Dự báo sản lượng thức ăn vặt được tiêu thụ tại Trung Quốc năm 2019 là 18,26 triệu tấn. Quy mô thị trường này đang tăng theo cấp độ nhân.

Sở hữu thương hiệu trái cây sấy Đức Thành được thị trường Trung Quốc ưa chuộng, ông Nguyễn Lâm Viên, Tổng Giám đốc Công ty CP Vinamit, nhận xét xu hướng ăn vặt ở giới trẻ Trung Quốc bùng nổ, ăn vặt thậm chí được nhiều người chọn thay thế ăn cơm. Gạo được dùng làm bánh, ăn thay thế cơm; các loại rau, trái cây được chế biến khô, làm bánh. Đặc biệt, bánh làm từ rau, trái cây giữ nguyên vitamin, khoáng chất thông qua công nghệ sấy lạnh được ưa chuộng. Do đó, DN Việt cần bắt kịp xu hướng, đánh mạnh vào phân khúc đầy tiềm năng này.

Thống kê 5 tháng đầu năm 2019 của Hải quan Trung Quốc, kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều Việt Nam - Trung Quốc đạt 57,2 tỉ USD, tăng 46%; dự đoán cả năm 2019 có thể đạt 160-165 tỉ USD.

Ông ĐẶNG PHÚC NGUYÊN, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam:

Bắt buộc phải sản xuất an toàn

Trước đây, DN chỉ cần mang hàng sang biên giới bán, nay phải đáp ứng nhiều điều kiện nên DN gặp khó khăn trong thủ tục. Về trồng trọt cũng ảnh hưởng khi nông dân trước giờ canh tác tự do, phun xịt thuốc theo thói quen thì nay phải kiểm soát để có sản phẩm an toàn.

Đây là yêu cầu chính đáng của thị trường vì không chỉ Trung Quốc mà người tiêu dùng Việt Nam cũng cần nông sản an toàn, nếu biết sản phẩm phun xịt nhiều, còn dư lượng thuốc trừ sâu sẽ không mua. Do vậy, ngành trái cây Việt Nam bắt buộc phải sản xuất an toàn, truy xuất được nguồn gốc.

Ông NGUYỄN LÂM VIÊN, Tổng Giám đốc Công ty CP Vinamit:

Ưa chuộng thực phẩm xanh, sạch

Người dùng Trung Quốc ngày càng chuộng thực phẩm xanh, sạch. Khi thâm nhập thị trường Trung Quốc, DN cần tập trung sản xuất các thực phẩm đạt chất lượng, thật sự là thực phẩm sạch xanh tự nhiên, để người tiêu dùng Trung Quốc an tâm sử dụng. Tuy thực phẩm xanh có thể vốn sản xuất cao nhưng là sản phẩm có tiềm năng rất lớn tại thị trường này.

NGỌC ÁNH - THÁI PHƯƠNG

Trung Đông, châu Phi: Hai thị trường tiềm năng nhưng đầy thách thức với doanh nghiệp Việt

Trung Đông và châu Phi là hai thị trường còn nhiều tiềm năng để doanh nghiệp Việt Nam mở rộng hợp tác và phát triển kinh tế, thương mại. Tuy nhiên, khi xuất khẩu vào hai thị trường này, các doanh nghiệp cần tìm hiểu kỹ thị trường, đối tác để tránh những rủi ro.

Trung Đông, châu Phi - thị trường mở cho doanh nghiệp Việt

Đó là nhận định của nhiều chuyên gia tại Hội thảo “Triển vọng hợp tác và phát triển thương mại tại khu vực Trung Đông - châu Phi” diễn ra mới đây tại TP Hồ Chí Minh do Bộ Công Thương tổ chức.

Hội thảo nhằm giúp doanh nghiệp xuất khẩu nắm bắt thông tin, xây dựng chiến lược kinh doanh, tiếp cận thị trường cũng như tránh được những rủi ro xảy ra khi giao dịch với thị trường Trung Đông và châu Phi.

Nói về tiềm năng của hai khu vực trên, bà Phạm Hoài Linh - Phó trưởng Phòng Tây Á - châu Phi, Vụ Thị trường châu Á - châu Phi (Bộ Công Thương) cho biết, Trung Đông có 15 nước (trong đó có 10 nước đã là thành viên WTO) với dân số khoảng 320 triệu người (số liệu năm 2015), tốc độ tăng trưởng GDP năm 2018 2,2% (GDP 2018 là 3,452 tỷ USD).

hợp tác Việt Nam - trung đông

Thủy hải sản Việt Nam là mặt hàng tiềm năng, hấp dẫn đối với thị trường Trung Đông và Châu Phi

Thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, trong năm 2018, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều của Việt Nam - Trung Đông đạt 13,9 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu gần 8,8 tỷ USD và nhập khẩu hơn 5,1 tỷ USD. Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu của khu vực này với Việt Nam mang tính bổ sung cho nhau.

Do điều kiện tự nhiên, thời tiết, thổ nhưỡng không thuận lợi và phù hợp cho sản xuất nông nghiệp, hầu hết các nước Trung Đông phải nhập khẩu số lượng lớn, đến 80% các mặt hàng lương thực, thực phẩm (tương đương khoảng 40 tỷ USD/năm) và dự báo đến năm 2035 sẽ tăng lên 70 tỷ USD.

Riêng thị trường Việt Nam, trong năm 2018, các nước Trung Đông nhập khẩu 958 triệu USD các mặt hàng nông sản, thực phẩm (hạt tiêu, hạt điều, gạo, cà phê, chè, hải sản, rau quả, bánh kẹo, sản phẩm từ ngũ cốc).

Ngoài các mặt hàng, thực phẩm, nông sản, thủy sản, Trung Đông còn có nhu cầu nhập khẩu cao các loại hàng hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng... - Đây là thị trường lớn, mở, và còn rất nhiều cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam, bà Phạm Hoài Linh nhấn mạnh.

Cụ thể, các thị trường tiềm năng như: Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE), nhập khẩu khoảng 80% lương thực, nông sản, thực phẩm. Trong đó, Việt Nam đã có hơn 100 mặt hàng tại thị trường này, nhiều nhất là sản phẩm chanh không hạt (chiếm 85% thị phần). Về thủy hải sản, UAE nhập khẩu đến 75%.

“Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất cũng chính là “trạm trung chuyển” hàng hóa lớn nhất khu vực Trung Đông và châu Phi, là nơi đặt trụ sở, chi nhánh của rất nhiều tập đoàn lớn trên thế giới nên rất thuận lợi cho hàng hóa của Việt Nam tại đây cũng như tái xuất sang các quốc gia khác”, bà Phạm Hoài Linh lưu ý.

Phân tích thế mạnh, tiềm năng tại thị trường châu Phi, bà Nguyễn Minh Phương - Trưởng phòng Tây Á, châu Phi - Vụ Thị trường châu Á - châu Phi (Bộ Công Thương) nhận định, thị trường này có đến 55 nước, với dân số 1,3 tỷ người.

Đây là khu vực có nguồn tài nguyên dồi dào nhưng sản xuất chưa phát triển, do đó nhu cầu hàng tiêu dùng, lương thực rất lớn. Mặt khác, đây cũng là nơi cung cấp các nguyên liệu thiên nhiên và nông sản thô phục vụ ngành sản xuất, chế biến của Việt Nam.

Các mặt hàng mà Việt Nam xuất khẩu lớn nhất sang châu Phi gồm: Gạo, điện thoại các loại và linh kiện, thủy sản, dệt may, giày dép, hạt tiêu, máy móc thiết bị, sản phẩm sắt thép... Và nhập từ châu Phi hạt điều nguyên liệu, bông, gỗ, nguyên phụ liệu và thức ăn gia súc.

Đáng chú ý, mặc dù nhu cầu nhập khẩu của thị trường này ngày càng tăng, yêu cầu về các tiêu chuẩn hàng hóa khá dễ tính so với các khu vực khác nhưng hiện nay Việt Nam đang nhập siêu từ châu Phi gần 1 tỷ USD mỗi năm.

Theo bà Nguyễn Minh Phương, tiềm năng xuất khẩu vào châu Phi còn rất lớn, gạo, cà phê, tinh bột sắn sẽ là những sản phẩm mà châu Phi có nhu cầu cao trong những năm tới với mức tăng mỗi năm từ 10 - 20%.

Tuy nhiên đây cũng là khu vực thị trường tiềm ẩn nhiều rủi ro do khác biệt về văn hóa, tập quán kinh doanh, thói quen thanh toán. Ngoài ra, việc thiếu thông tin thị trường và khoảng cách địa lý cùng một số rào cản về mặt bảo hộ thương mại cũng khiến việc phát triển thị trường châu Phi gặp khó khăn.

Nghiên cứu thị trường để hạn chế rủi ro

Bên cạnh những thuận lợi đến từ hai thị trường lớn Trung Đông và châu Phi, đại diện Bộ Công Thương cũng cảnh báo, các doanh nghiệp khi xuất khẩu vào khu vực Trung Đông, châu Phi cần tìm hiểu kỹ thị trường, đối tác để tránh những rủi ro có thể xảy ra.

Bà Nguyễn Minh Phương, Vụ thị trường châu Á - châu Phi cho rằng, có 2 rủi ro mà doanh nghiệp thường gặp phải đó là rủi ro trong thanh toán do nhiều nhà nhập khẩu Trung Đông không có thói quen mở L/C và doanh nghiệp gặp phải tình trạng lừa đảo.

Thị trường tiềm năng nhưng đầy thách thức với doanh nghiệp Việt

Để tránh rủi ro khi hợp tác với thị trường Trung Đông, châu Phi, các doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động nghiên cứu thị trường, có chiến lược kinh doanh phù hợp

Thực tế, việc giao dịch giữa các doanh nghiệp hai nước thường diễn ra trên mạng, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vì tin lời phía đối tác, sẵn sàng chuyển khoản hàng nghìn USD làm tiền đặt cọc mà không hề qua các bước kiểm tra, thẩm tra cũng như tìm hiểu thông tin đối tác.

Năm 2018, Bộ công Thương cũng đã xử lý một số trường hợp. Có một số đối tượng ở khu vực Trung Đông lừa đảo doanh nghiệp Việt Nam bằng thủ đoạn lập trang web công ty giả. Sau đó, những đối tượng này yêu cầu các doanh nghiệp Việt Nam gửi mẫu sang và yêu cầu trả chi phí kiểm tra 2.000 - 3.000 USD.

Tuy nhiên, sau khi nhận tiền, các đối tượng này biến mất và không thể liên lạc được nữa, phải rất nhiều tháng sau, các doanh nghiệp Việt Nam mới biết, mình đã chuyển tiền vào tài khoản của doanh nghiệp “ma” hoặc chuyển tiền vào một tổ chức lừa đảo”.

Ngoài ra, bà Phương cũng lưu ý, nhiều doanh nghiệp đối tác ở thị trường Trung Đông thường xuyên đơn phương thay đổi điều khoản hợp đồng, nhưng mọi chi phí thay đổi này hoàn toàn phía các doanh nghiệp Việt Nam phải gánh chịu.

Để tránh tình trạng này, bà Phương khuyến nghị, doanh nghiệp tìm hiểu đầy đủ thông tin về các đối tác, thị trường, chính sách xuất khẩu, cùng với đó tích cực tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại như khảo sát thị trường, hội chợ, triển lãm chuyên ngành…

“Doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường phù hợp, sản xuất sản phẩm xuất khẩu có chất lượng, quy cách, mẫu mã phù hợp với quy định về tiêu chuẩn chất lượng và tập quán tiêu dùng các nước”, bà Phương cảnh báo.

Đặc biệt, các doanh nghiệp cũng cần cảnh giác với các thương vụ quá hấp dẫn. Trong quá trình đàm phán thực hiện hợp đồng doanh nghiệp cần đưa ra những điều khoản chặt chẽ tránh trường hợp bị đối tác ép giá.

Bên cạnh đó, cần tận dụng triệt để kênh kiểm tra đối tác, có thể thuê đội ngũ tư vấn ngay tại Việt Nam để thẩm tra xem những đối tác đó có phải là các doanh nghiệp giả mạo hay không, hoặc có thể thông qua kênh đại sứ quán ở tại các nước đó để tìm hiểu cụ thể thông tin về các đối tác mà mình đang kết hợp.

Trong bối cảnh cạnh tranh thương mại ngày càng mạnh mẽ thì việc khai thác những khu vực thị trường còn nhiều dư địa và phù hợp với năng lực sản xuất của Việt Nam như Trung Đông, châu Phi là hết sức quan trọng để nâng cao giá trị xuất khẩu.

Tuy nhiên, để khắc phục những sự khác biệt và tránh rủi ro, các doanh nghiệp cần chủ động nghiên cứu thị trường, có chiến lược kinh doanh phù hợp để hạn chế rủi ro và phát huy thế mạnh của mình trong việc chinh phục thị trường.

VCCI kiến nghị đơn giản hoá xác định trị giá hải quan cho hàng hoá không chịu thuế

Nhiều loại hàng hoá hiện có thuế suất xuất khẩu, nhập khẩu 0%, nên việc xác định trị giá hải quan chỉ còn ý nghĩa thống kê. Do đó, có thể đơn giản hoá điều kiện và thủ tục xác định trị giá hải quan đối với những hàng hoá này để giảm chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp.

vcci kien nghi don gian hoa dieu kien va thu tuc xac dinh tri gia hai quan cho hang hoa khong chiu thue
Công chức Cục Hải quan Đồng Nai kiểm tra hàng hóa XNK của doanh nghiệp. Ảnh: N.H

Đó là một trong những nội dung được nêu lên trong văn bản góp ý về Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 39/2015/TT-BTC quy định về trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu vừa được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) gửi Tổng cục Hải quan.

Theo đó, việc xác định trị giá hải quan có ý nghĩa rất quan trọng để xác định nghĩa vụ nộp thuế xuất nhập khẩu của hàng hoá. Tuy nhiên, rất nhiều loại hàng hoá hiện nay có mức thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở mức 0% hoặc được miễn thuế. Đối với những hàng hoá này, việc xác định trị giá hải quan chỉ còn có ý nghĩa thống kê, chứ không liên quan đến nghĩa vụ ngân sách. Do đó, hoàn toàn có thể đơn giản hoá các quy định về điều kiện và thủ tục xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá không chịu thuế xuất nhập khẩu, giúp giảm chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp.

Hiện nay, các quy định pháp luật vẫn chưa thể hiện sự phân biệt này dù trên thực tế các cơ quan hải quan cũng ít khi kiểm tra, xác định lại trị giá hải quan trong các trường hợp như vậy. Tuy nhiên, do không có quy định rõ ràng nên một số doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hoá không chịu thuế nhưng vẫn phải làm đầy đủ các biện pháp xác định, điều chỉnh trị giá hải quan vì lo ngại bị phạt khi thực hiện không đầy đủ.

Do đó, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu điều chỉnh quy định theo hướng đơn giản hoá điều kiện và thủ tục xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá không chịu thuế xuất nhập khẩu. Ví dụ như được áp dụng phương pháp trị giá giao dịch mà không cần đáp ứng đủ cả 4 điều kiện tại Điều 6.3, bao gồm người mua không bị hạn chế quyền định đoạt hoặc sử dụng hàng hóa sau khi nhập khẩu; giá cả hoặc việc bán hàng không phụ thuộc vào những điều kiện hay các khoản thanh toán mà vì chúng không xác định được trị giá của hàng hóa cần xác định trị giá hải quan; sau khi bán lại, chuyển nhượng hoặc sử dụng hàng hóa nhập khẩu người mua không phải trả thêm bất kỳ khoản tiền nào từ số tiền thu được do việc định đoạt hàng hóa nhập khẩu mang lại; người mua và người bán không có mối quan hệ đặc biệt hoặc nếu có thì mối quan hệ đặc biệt đó không ảnh hưởng đến trị giá giao dịch.

VCCI cũng đề xuất, đối với hàng xuất khẩu, chỉ cần khai báo giá trị giao dịch thực tế mà không cần điều chỉnh đúng về giá trị cửa khẩu xuất.

Cho doanh nghiệp tự kê khai phần giá trị phần mềm đi kèm hàng hoá

Về việc xác định trị giá hải quan đối với phần mềm đi kèm hàng hoá, VCCI cho rằng, hiện việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá có phần mềm đi kèm đang gặp nhiều bất cập. Có trường hợp phần giá trị của phần mềm được cộng luôn vào giá trị vật lý của hàng hoá và trở thành trị giá hải quan của hàng hoá đó, có trường hợp phần giá trị phần mềm lại không được ghi nhận trong giá trị hải quan. Việc xác định chính xác phần giá trị phần mềm nào thuộc về hàng hoá, và phần giá trị dịch vụ nào không thuộc về hàng hoá hiện nay rất khó khăn do không có quy định rõ ràng.

Đối với phần mềm, trong bản thuyết minh của dự thảo, cơ quan soạn thảo cho rằng có trường hợp doanh nghiệp có “phần mềm không cùng chuyến với máy móc thiết bị, từ đó có khoảng hở dễ bị doanh nghiệp lợi dụng để chuyển giá vào phần mềm nhập khẩu riêng nhằm giảm trị giá của máy móc thiết bị, giảm số tiền thuế phải nộp”.

Theo VCCI, nhận định này chưa toàn diện, vì trong trường hợp đó, chi phí mà doanh nghiệp trong nước trả cho việc nhập khẩu phần mềm sẽ được coi là doanh thu của nhà thầu nước ngoài và doanh nghiệp trong nước sẽ phải kê khai và nộp thuế nhà thầu cho khoản này. Nói cách khác, thay vì phải nộp thuế nhập khẩu doanh nghiệp sẽ phải nộp thuế nhà thầu cho phần giá trị của phần mềm. Vấn đề chuyển giá chỉ đặt ra khi có sự chênh lệch thuế suất giữa thuế nhập khẩu đối với máy móc và thuế nhà thầu đối với phần mềm.

VCCI cho biết, trong tài liệu thuyết minh dự thảo, cơ quan soạn thảo cũng đã thừa nhận vấn đề rất khó khi phân loại đâu là phần mềm ứng dụng thông thường và đâu là phần mềm liên quan đến máy móc, thiết bị. Khi trao đổi trực tiếp, cơ quan soạn thảo giải thích khái niệm phần mềm liên quan đến máy móc là những phần mềm mà không có nó thì máy móc không sử dụng được. Tuy nhiên, với sự phát triển rất nhanh của công nghệ thông tin ngày nay, rất khó để có thể đưa ra một quy định bao quát được tất cả các trường hợp.

Với những lý do đó, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu phương án cho phép doanh nghiệp tự kê khai phần giá trị phần mềm và chịu nghĩa vụ thuế tương ứng, nếu doanh nghiệp kê khai vào trị giá hải quan thì phải nộp thuế nhập khẩu, nếu kê khai vào chi phí dịch vụ qua biên giới thì phải nộp thuế nhà thầu.

Khải Kỳ

Hải quan Quảng Ninh triển khai Hệ thống VASSCM tại kho ngoại quan

Hải quan Quảng Ninh vừa triển khai thành công Hệ thống VASSCM đối với kho ngoại quan tại Công ty TNHH quốc tế Sao Bắc và Chi nhánh Đại lý Hàng hải Quảng Ninh.

hai quan quang ninh trien khai he thong vasscm tai kho ngoai quan
Công chức Hải quan hướng dẫn doanh nghiệp vận hành Hệ thống VASSCM.

Được biết, ngày 19/6, Hệ thống VASSCM được Hải quan Quảng Ninh triển khai sẽ giúp cho các doanh nghiệp có thể trực tiếp đến doanh nghiệp kinh doanh kho để lấy hàng; giảm thủ tục khi nhận hàng tại khu vực kho doanh nghiệp XNK với cơ quan Hải quan.

So với việc thực hiện theo quy trình cũ, việc triển khai này còn giúp giảm thời gian khi kiểm tra được trạng thái hàng hóa (thông qua mạng internet), không cần di chuyển giữa bộ phận giám sát hải quan và doanh nghiệp kinh doanh cảng; giảm thời gian lấy hàng ra khỏi cảng; giảm chi phí.

Trước đây, doanh nghiệp phải in và xuất trình cho bộ phận giám sát hải quan và doanh nghiệp kinh doanh kho danh sách container và danh sách hàng hóa đủ điều kiện qua khu vực giám sát.

Đồng thời, thông qua Hệ thống E-cargo, cơ quan Hải quan có thể kiểm tra, giám sát tự động việc xuất, nhập tồn kho tại các kho thông qua nghiệp vụ Get in, Get out của Hệ thống VASSCM tại kho.

Việc triển khai thành công Hệ thống VASSCM đối với kho ngoại quan tại Công ty TNHH quốc tế Sao Bắc và Chi nhánh Đại lý Hàng hải Quảng Ninh sẽ mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp XNK mà còn góp phần thực hiện Nghị quyết 19/NQ-CP năm 2018 của Chính phủ về thực hiện nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh tại Cục Hải quan Quảng Ninh.

Quang Hùng

"Siết" kiểm tra xuất xứ, kinh doanh xuất nhập khẩu gỗ sang Mỹ

Bộ Công Thương vừa có văn bản gửi Bộ Tài chính đề nghị ngành Hải quan rà soát, kiểm tra công tác quản lý, kiểm tra xuất xứ gỗ dán xuất khẩu nhập khẩu của các cơ quan hải quan từ năm 2018 đến nay; Đồng thời, tăng cường biện pháp kiểm tra xuất xứ, hoạt động sản xuất kinh doanh gỗ dán của các doanh nghiệp.

Theo Bộ Công thương, hiện nay có hiện tượng một số doanh nghiệp Việt Nam nghi vấn tiếp tay cho hàng Trung Quốc bằng cách gian lận về xuất xứ, nhãn mác các lô gỗ dán xuất khẩu từ Việt Nam tới Mỹ.

Tại hội thảo "Tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đối với ngành gỗ Việt" diễn ra mới đây, ông Tô Xuân Phúc, chuyên gia của Tổ chức Forest Trends, cho biết, hiện các dự án FDI của Trung Quốc với số vốn 50 triệu USD đã được đăng ký đầu tư vào ngành gỗ Việt Nam trong 5 tháng đầu 2019, cao hơn gần 1,7 lần vốn đăng ký của họ cùng kỳ năm trước. Báo cáo "Đầu tư và chuyển dịch đầu tư nước ngoài trong ngành gỗ Việt Nam thời gian vừa qua" của Tổ chức Forest Trends phân tích: Các mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất từ Trung Quốc vào Việt Nam bao gồm gỗ dán, đồ nội thất và ván lạng.

Lý giả về nguyên nhân dẫn đến việc gia tăng về các dự án với quy mô nhỏ của Trung Quốc trong ngành gỗ có thể do Mỹ đánh thuế với hàng Trung Quốc, ông Phúc cho biết, các doanh nghiệp Trung Quốc mở nhà máy nhỏ tại Việt Nam nhằm tranh thủ lợi thế về xuất xứ. Hiện vẫn chưa có đánh giá về rủi ro gỗ Trung Quốc nhập vào Việt Nam. Tuy nhiên, đã có hiện tượng, một số công ty của Trung Quốc tại Việt Nam nhập gỗ từ Trung Quốc sau đó xuất vào thị trường Mỹ với nhãn mác sản phẩm Việt.

Theo thông tin Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam cung cấp, Cục Hải quan và biên phòng Hoa Kỳ đã có nghi vấn và tiến hành điều tra các doanh nghiệp nhập khẩu vi phạm lệnh áp thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng của Mỹ đối với sản phẩm gỗ dán cứng từ Trung Quốc được các đơn vị này nhập khẩu vào Mỹ.

Trước tình hình đó, nhằm phòng tránh gian lận thương mại về xuất xứ hàng hóa, chuyển tải bất hợp pháp, dẫn tới nguy cơ Mỹ có thể áp dụng các biện pháp siết chặt quản lý đối với gỗ dán xuất khẩu của Việt Nam, tác động tiêu cực đến sản xuất trong nước và làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các doanh nghiệp làm ăn chân chính, Bộ Công Thương đề nghị Bộ Tài chính chỉ đạo Tổng cục Hải quan rà soát, kiểm tra công tác quản lý, kiểm tra xuất xứ gỗ dán xuất khẩu nhập khẩu của các cơ quan hải quan từ năm 2018 đến nay; Đồng thời, tăng cường biện pháp kiểm tra xuất xứ, hoạt động sản xuất kinh doanh gỗ dán của các doanh nghiệp.

Bộ Công Thương cho biết, mặt hàng gỗ dán nhập khẩu từ Trung Quốc bị Mỹ áp thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp và đến nay thuế suất thuế nhập khẩu đã nâng từ 10% lên 25%. Điều này đã và đang làm gia tăng nguy cơ gian lận thương mại về xuất xứ hàng hóa, có khả năng tác động tiêu cực đến sản xuất, chế biến gỗ dán của Việt Nam.

Theo đó, có sự liên đới của một số doanh nghiệp Việt Nam với hành vi vi phạm về thuế của các doanh nghiệp đang bị điều tra.

Trước tình hình đó, nhằm phòng tránh gian lận thương mại về xuất xứ hàng hóa, chuyển tải bất hợp pháp, dẫn tới nguy cơ Mỹ có thể áp dụng các biện pháp siết chặt quản lý đối với gỗ dán xuất khẩu của Việt Nam, tác động tiêu cực đến sản xuất trong nước và làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các doanh nghiệp làm ăn chân chính, Bộ Công Thương đề nghị Bộ Tài chính chỉ đạo Tổng cục Hải quan rà soát, kiểm tra công tác quản lý, kiểm tra xuất xứ gỗ dán xuất khẩu nhập khẩu của các cơ quan hải quan từ năm 2018 đến nay; Đồng thời, tăng cường biện pháp kiểm tra xuất xứ, hoạt động sản xuất kinh doanh gỗ dán của các doanh nghiệp.

Bộ Công Thương cho biết, mặt hàng gỗ dán nhập khẩu từ Trung Quốc bị Mỹ áp thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp và đến nay thuế suất thuế nhập khẩu đã nâng từ 10% lên 25%. Điều này đã và đang làm gia tăng nguy cơ gian lận thương mại về xuất xứ hàng hóa, có khả năng tác động tiêu cực đến sản xuất, chế biến gỗ dán của Việt Nam.

Theo đó, có sự liên đới của một số doanh nghiệp Việt Nam với hành vi vi phạm về thuế của các doanh nghiệp đang bị điều tra.

Nộp thuế điện tử 24/7: Chính thức triển khai Chương trình Doanh nghiệp nhờ thu thuế từ 15/9

Tổng cục Hải quan vừa ra quyết định 1737/QĐ-TCHQ sửa đổi quy trình và bộ chuẩn thông điệp nộp thuế điện tử. Theo đó, chính thức từ ngày 15/9/2019 sẽ triển khai chương trình nộp thuế điện tử cho DN nhờ cơ quan Hải quan ủy quyền trích nợ tài khoản nộp thuế.

nop thue dien tu 247 chinh thuc trien khai chuong trinh doanh nghiep nho thu thue tu 159
Hoạt động nghiệp vụ tại Chi cục Hải quan cảng Cái Lân. Ảnh: T.Trang.

Để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thường xuyên làm thủ tục xuất nhập khẩu có số lượng lớn tờ khai phải nộp tiền thuế, có đủ năng lực tài chính, Tổng cục Hải quan đã nâng cấp mở rộng thanh toán nộp thuế điện tử 24/7, triển khai Chương trình Doanh nghiệp nhờ cơ quan hải quan sau khi phát sinh tờ khai nợ thuế thì chuyển ngay thông tin số thuế phải nộp của từng tờ khai sang ngân hàng mà doanh nghiệp đã ủy quyền trích nợ tài khoản nộp thuế theo một định mức về tiền và khoảng thời gian nhất định (Chương trình Doanh nghiệp nhờ thu).

Với việc triển khai chương trình nộp thuế này, DN có thể áp dụng các phương thức nộp tiền: thực hiện thanh toán trực tiếp tại ngân hàng hoặc có thể sử dụng song song 2 chương trình nộp thuế điện tử 24/7 và chương trình doanh nghiệp nhờ thu.

Theo phân tích của đại diện Cục Thuế XNK, ngoài các ưu điểm khi thanh toán thuế bằng phương thức điện tử với việc nâng cấp Cổng thanh toán điện tử hải quan để triển khai áp dụng cho các đối tượng là DN có nhu cầu nhờ cơ quan hải quan chuyển ngay thông tin số thuế phải nộp của từng tờ khai sang ngân hàng mà DN đã ủy quyền trích nợ tài khoản nộp thuế còn đạt được các ưu điểm sau: DN không phải làm thủ tục lập lệnh thanh toán tiền thuế trên Cổng thông tin của Hải quan hoặc tại ngân hàng, nên hạn chế tất cả các rủi ro khi trao đổi thông tin lập lệnh nộp tiền giữa hải quan/ngân hàng với người lập lệnh.

Các DN không phải thực hiện nộp trước tiền ngay sau khi khai báo, nên có thời gian chủ động nguồn vốn của mình, ngân hàng chỉ trích tiền từ tài khoản của DN ngay sau khi DN đã hoàn thành về thủ tục hải quan, xác định chính xác số phải nộp, tờ khai tự động thông quan hàng hóa.

Hỗ trợ cho các DN làm thủ tục XNK hàng hóa tại các cửa khẩu phụ, lối mòn, lối mở không có điểm thu của ngân hàng/Kho bạc, không có mạng internet để triển khai nộp thuế điện tử.

Theo đó, để ngân hàng tham gia chương trình này là các ngân hàng phối hợp thu đã triển khai Chương trình nộp thuế điện tử 24/7. Vì vậy, Tổng cục Hải quan đã có công văn đề nghị các ngân hàng nghiên cứu quy trình thực hiện, thời gian nâng cấp hệ thống đáp ứng chương trình DN nhờ thu và đăng ký tham gia triển khai Chương trình DN nhờ thu.

Trường hợp ngân hàng có đăng ký tham gia triển khai Chương trình Doanh nghiệp nhờ thu thì thông báo thời gian dự kiến phát triển hệ thống, thời gian kết nối với hệ thống Hải quan.

Đồng thời thông báo trong toàn hệ thống ngân hàng và tuyên truyền đến các doanh nghiệp có mở tài khoản tại ngân hàng về Chương trình DN nhờ thu trong thanh toán thuế và thu khác đối với hàng hóa XK, NK. Hướng dẫn DN có thể đăng ký ủy quyền trích nợ tài khoản tại cơ quan Hải quan hoặc tại ngân hàng thương mại.

Thu Trang

Chứng từ bảo hiểm lô hàng

1. Khái niệm

Chứng từ bảo hiểm là chứng từ do người bảo hiểm cấp cho người được bảo hiểm nhằm hợp thức hóa hợp đồng bảo hiểm và dùng để điều tiết quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm và người được bảo hiểm. Trong mối quan hệ này, tổ chức bảo hiểm nhận bồi thường cho những tổn thất xảy ra vì những rủi ro mà hai bên đã thảo thuận trong hợp đồng bảo hiểm, còn người được bảo hiểm phải nộp cho người bảo hiểm một số tiền nhất định gọi là phí bảo hiểm.

Sự cam kết này do hai bên tự nguyện, không có sự cưỡng chế của pháp luật hay của một bên nào. Trừ bảo hiểm bắt buộc do pháp luật quy định nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội

Về hiệu lực pháp lý, chứng từ bảo hiểm không có giá trị bằng hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp xuất nhập khẩu theo CIF hay CIP thì phải có hợp đồng bảo hiểm.

Theo điều 28 UCP 600, chứng từ vận tải phải thể hiện trên bề mặt là được công ty bảo hiểm hoặc đại lý của công ty bảo hiểm phát hành và ký tên. Các chứng từ do người môi giới bảo hiểm cấp sẽ không được chấp nhận trừ khi quy định rõ trong L/C.

2. Phân loại

Chứng từ bảo hiểm thường được dùng là đơn bảo hiểm hay giấy chứng nhận bảo hiểm:

+ Đơn bảo hiểm (Insurance Policy): là chứng từ do tổ chức bảo hiểm cấp, bao gồm những điều khoản chủ yếu của hợp đồng bảo hiểm nhằm hợp thức hóa hợp đồng này. Đơn bảo hiểm gồm có: Các điều khoản chung có tính chất thường xuyên, trong đó người ta quy định rõ trách nhiệm của người bảo hiểm và người được bảo hiểm; Các điều khoản riêng về đối tượng bảo hiểm (tên hàng, số lượng, ký mã hiệu, tên phương tiện chở hàng,..) và việc tính toán phí bảo hiểm.

+ Giấy chứng nhận bảo hiểm (Insurance certificate): là chứng từ do người bảo hiểm cấp cho người được bảo hiểm để xác nhận hàng hóa đã được mua bảo hiểm theo điều kiện hợp đồng. Nội dung của giấy chứng nhận bảo hiểm chỉ bao gồm điều khoản nói lên đối tượng được bảo hiểm, các chi tiết cần thiết cho việc tính toán phí bảo hiểm và điề kiện bảo hiểm đã thảo thuận.

Ngoài ra còn có phiếu bảo hiểm (Cover note) là chứng từ do người môi giới bảo hiểm cấp trong khi chờ lập chứng từ bảo hiểm. Đây là chứng từ mang tính chất tạm thời không có giá trị lưu thông và không có giá trị để giải quyết tranh chấp tổn thất xay ra nên Ngân hàng từ chối tiếp nhận phiếu bảo hiểm.

3. Chức năng

Bảo hiểm đơn là chứng từ do công ty bảo hiểm cấp cho người được bảo hiểm. Bảo hiểm có tác dụng:

Chứng nhận cho một lô hàng đã được bảo hiểm, góp phần giải quyết những rủi ro có thể xảy ra trong vận tải quốc tế

– Giải quyết phần nào thiệt hại xả ra trong vận tải đường biển vì bảo hiểm là hình thức phân tán rủi ro theo nguyên lý cộng đồng.

– Là chứng từ cần thiết để khiếu nại hãng bảo hiểm và nhận bồi thường bảo hiểm khi có tranh chấp, kiện tụng.

4. Nội dung

4.1. Tên và địa chỉ của công ty bảo hiểm: được ghi ở đầu trang của đơn bảo hiểm

4.2. Tiêu đề: Đơn bảo hiểm phải ghi tiêu đề là INSURANCE POLICY được in với cỡ chữ to nhằm phân biệt đơn bảo hiểm với các chứng từ khác đang lưu thông trên thị trường

4.3. Ngày tháng lập chứng từ bảo hiểm:

Ngày lập chứng từ được ghi ở góc gưới bên phải phía sau từ “on” trong cụng từ “Issued in…on” hoặc trước cụm từ “Date of issue”.

Ngày lập chứng từ không được muộn hơn ngày giao hàng trừ khi trên chứng từ bảo hiểm thể hiện là bảo hiểm có hiệu lực từ một ngày không chậm hơn ngày giao hàng.

4.4. Số chứng từ bảo hiểm: là số chứng từ do người ký phát đơn bảo hiểm ghi ngay dưới tiêu đề trên đơn bảo hiểm.

4.5. Người được bảo hiểm: Tên và địa chỉ của người được bảo hiểm nếu L/C không có quy định gì thì đó là tên và địa chỉ của người gửi hàng (nhà xuất khẩu)

4.6. Tên con tàu và số hiệu con tàu: Tên, số hiệu con tàu hoặc phương tiện vận chuyển khác: được ghi sau chữ “Name of Vessel ỏ No.of flight” hoặc “Name and/or No, of Vessel/Flight”. Tên con tàu hay phương tiện vận chuyển khác phải đồng nhất với L/C hay các chứng từ khác.

4.7. Giao hàng từ … đến….: Trong hợp đồng bảo hiểm ghi rõ nơi khỏi hành “From:”, nơi đến “To:” và nơi chuyển tải nếu có “Transhipment”

4.8. Điều kiện bảo hiểm Điều kiện bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm là điều kiện đã được thỏa thuận giữa người mua bảo hiểm và người bán bảo hiểm. Điều kiện bảo hiểm ghi theo yêu cầu của người được bảo hiểm đúng như ghi trong L/C, không thêm bớt nếu thanh toán bằng L/C. Điều kiện bảo hiểm được ghi sau chữ “Condition or special coverage”, “condition of insurance”. Trong hợp đồng bảo hiểm phải ghi rõ điều kiện bảo hiểm (A, B, C…).

4.9. Chữ ký: Chứng từ bảo hiểm phải được ký theo quy định, pahir thể hiện là do một công ty bảo hiểm, người bảo hiểm hoặc đại lý bảo hoặc của người người được ủy quyền của họ ký và phát hành. Chữ ký của đại lý hoặc người được ủy quyền phải chỉ rõ là đại lý hoặc người được ủy quyền đã ký thay hoặc là thay mặt cho công ty bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm ký.

5. Những lưu ý khi sử dụng chứng từ bảo hiểm

5.1. Tính chuyển nhượng

Trong thương mại quốc tế, người mua bảo hiểm có thể là một người còn người thụ hưởng bảo hiểm lại là người khác; để làm được điều này, chứng từ bảo hiểm phải yêu cầu được lập là chuyển nhượng được

Khi chứng từ bảo hiểm thuộc lại chuyển nhượng được, thì người mua bảo hiểm nhất thiết phải ký hận có như vậy thì mới đủ cơ sở pháp lý để người được chuyển nhượng đòi tiền bồi thường.

5.2. Chứng từ bảo hiểm đích danh: không thể chuyển nhượng được nên không linh hoạt, do đó nó được dùng hạn chế.

5.3. Chứng từ bảo hiểm theo lệnh: rất linh hoạt, phù hợp với tính chất thương mại quốc tế nên được dùng phổ biến.

5.4. Chứng từ bảo hiểm vô danh: là loại linh hoạt nhất, nghĩa là bất cứ ai nắm giữa nó đều trở thành người hưởng lợi bảo hiểm do đó nó dễ bị lạm dụng, nếu dùng thì phải có biện pháp kiểm soát chặt chẽ tất cả các chứng từ bảo hiểm gốc.

5.5. Số tiền bảo hiểm: (Theo quy định của UCP)

– Chứng từ bảo hiểm phải ghi rõ số tiền bảo hiểm và phải cùng loại tiền với L/C

– Số tiền bảo hiểm tối thiểu là 110% của giá trị CIF, CIP hay giá trị hóa đơn. Tuy nhiên, số tiền bảo hiểm có thể lớn hơn, do các bên thảo thuận, số tiền bảo hiểm càng cao thì phí bảo hiểm cũng càng cao.

5.6. Xuất trình bản gốc:

Tất cả các bản gốc chứng từ bảo hiểm phải được xuất trình. Về cơ bản, bản gốc chứng từ bảo hiểm cũng giống như bản gốc vận đơn đường biển là có tính lưu thông, có giá trị chuyển nhượng và được phát hành thành nhiều bản có giá trị như nhau.

5.7. Loại tiền và số tiền bảo hiểm phải thích ứng và đầy đủ.

5.8. Mô tả hàng hóa trên chứng từ bảo hiểm phải đúng với thực tế hàng hóa được bảo hiểm. Bên và nơi khiếu nại đòi tiền bảo hiểm phải được người bảo hiểm chấp nhận.

Nguồn: http://logistics-institute.vn/

https://xuatnhapkhauphuchung.com

Xin chứng thư xuất hàng dệt may sang Mexico qua Internet

Ngày 20/6, Bộ Công Thương đã khai trương website cho phép doanh nghiệp dệt may khai báo xin cấp Chứng thư xuất khẩu hàng sang Mexico mà không phải nộp hồ sơ bản giấy.

Đây là động thái tích cực trong công tác cải cách thủ tục hành chính, xóa bỏ cơ chế xin - cho, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu của Bộ Công Thương.

Các doanh nghiệp có thể chủ động tìm hiểu thủ tục liên quan đến việc sử dụng tài khoản trên hệ thống điện tử, cũng như thao tác khai báo chứng thư xuất khẩu (C/E) và thông tin thương nhân xuất khẩu đi Mexico... Tại đường dẫn ecosys.gov.vn.

Chú thích ảnh

Lễ công bố khai trương cổng thông tin điện tử hỗ trợ doanh nghiệp dệt may xuất hàng đi Mexico.

Cụ thể, quy trình cấp Chứng thư xuất khẩu theo hạn ngạch thuế quan cho hàng dệt may xuất khẩu sang Mexico theo Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được thực hiện qua Internet như sau:

Thương nhân nộp hồ sơ cấp Chứng thư xuất khẩu hoàn toàn qua Internet, không phải nộp hồ sơ bản giấy và được trả Chứng thư xuất khẩu trực tiếp hoặc qua bưu điện tùy thuộc vào đăng ký của thương nhân.

Việc cấp Chứng thư xuất khẩu tự động cho thương nhân theo phương thức trừ lùi lượng hạn ngạch thuế quan trên hệ thống điện tử và theo nguyên tắc "thương nhân nộp hồ sơ trước được cấp trước, thương nhân nộp hồ sơ sau được cấp sau, cho đến khi hạn ngạch thuế quan được cấp hết".

Cấp Chứng thư xuất khẩu khi thương nhân đã xuất khẩu lô hàng. Theo cơ chế này, thương nhân phải thường xuyên theo dõi cấp hạn ngạch thuế quan trên hệ thống điện tử để nộp hồ sơ đăng ký cấp Chứng thư xuất khẩu.

Chú thích ảnh

Giao diện cổng thông tin khai báo xin chứng thư xuất hàng dệt may sang Mexico. Ảnh chụp màn hình.

Chứng thư xuất khẩu là một trong các điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp Việt Nam có thể nhận ưu đãi thuế quan khi xuất hàng vào Mexico. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải có chứng nhận xuất xứ (C/O) theo mẫu của CPTPP đối với hàng dệt may trong hạn ngạch thuế quan, đồng thời đáp ứng một trong các quy tắc xuất xứ quy định tại khoản 3, Điều 4 của Thông tư 07/2019/TT-BCT.

Thông tư này quy định về xuất khẩu hàng dệt may sang Mexico theo CPTPP, có hiệu lực từ ngày 20/6/2019.

Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, Thông tư nhằm thực hiện cam kết của Việt Nam trong CPTPP và 2 Thư song phương giữa Bộ trưởng Bộ Kinh tế Mexico và Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam về xuất khẩu hàng dệt may sang Mexico theo CPTPP.

CPTPP có hiệu lực đối với Việt Nam từ 14/1/2019. Đây là Hiệp định thế hệ mới, chất lượng cao, có mức độ cam kết rất rộng và sâu. Toàn bộ Hiệp định là một bộ quy tắc mới, điều chỉnh mạnh mẽ các lĩnh vực đầu tư kinh doanh, thu hút đầu tư nước ngoài, tạo ra tăng trưởng, tạo công ăn việc làm và phúc lợi xã hội...

Các nước tham gia CPTPP chiếm khoảng 13,5% GDP toàn cầu và dự kiến đem lại nhiều cơ hội cho các nước thành viên. Dệt may có vị trí đặc biệt trong CPTPP. Lãnh đạo Bộ Công Thương cho biết, Hiệp định dành riêng một chương cho mặt hàng dệt may và đây là nội dung đàm phán khó khăn nhất.

Tin, ảnh: Hoàng Dương/Báo Tin tức
    

Gỡ khó cho nông sản Việt tìm đường sang thị trường Trung Quốc

Nhằm tăng cường trao đổi thông tin giữa các cơ quan của hai bên và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc hiểu rõ các quy định, thủ tục về kiểm dịch, ngày 20/6, tại TP. Hồ Chí Minh, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tổ chức Hội thảo quốc tế trao đổi thông tin, nghiệp vụ về an toàn thực phẩm, kiểm dịch động thực vật, các quy định về quản lý, kiểm soát xuất nhập khẩu nông lâm thủy sản Việt Nam - Trung Quốc.

Phát biểu khai mạc hội thảo, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT - ông Trần Thanh Nam - cho biết, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản các tháng đầu năm sang Trung Quốc có sự sụt giảm do nhiều vướng mắc liên quan đến thủ tục, quy định của Trung Quốc cũng như một số doanh nghiệp (DN) Việt Nam đã đưa hàng không đúng yêu cầu về chất lượng, mẫu mã của Trung Quốc.

Theo Thứ trưởng Trần Thanh Nam, Bộ NN&PTNT và Tổng cục Hải quan (TCHQ) Trung Quốc vẫn đang tiếp tục tháo gỡ các khó khăn, tạo điều kiện thúc đẩy xuất nhập khẩu giữa 2 nước tăng trưởng bền vững. Buổi trao đổi thông tin, nghiệp vụ trực tiếp với TCHQ Trung Quốc là hoạt động rất cần thiết cho doanh nghiệp trong nước đang có nhu cầu xuất khẩu sang thị trường này.

go kho cho nong san viet tim duong sang thi truong trung quoc
Thứ trưởng Bộ NN&PTNT - Trần Thanh Nam phát biểu tại hội thảo

Theo số liệu thống kê của TCHQ Việt Nam, xuất khẩu hàng rau quả trong tháng 5 đạt 358,9 triệu USD; giảm 23,1% so với tháng trước. 5 Tháng đầu năm 2019, xuất khẩu rau quả tới hầu hết các thị trường lớn đều tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, trừ xuất khẩu sang Trung Quốc tăng chậm.

Tuy nhiên, lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 5, hàng rau quả xuất khẩu sang tất cả các thị trường đạt 1,8 tỷ USD, tăng 6,1% so với cùng kỳ 2018. Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 1,28 tỷ USD, tăng 2,3% so cùng kỳ năm 2018.

Ông Đặng Phúc Nguyên - Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam - cho biết, theo số liệu thống kê từ đầu năm đến nay, tổng kim ngạch rau quả xuất qua Trung Quốc giảm nhẹ so với cùng kỳ 2018. Việc giảm sút này là do những mặt hàng trước đây được xuất theo tiểu ngạch thì theo quy định mới về quản lý chất lượng hàng hóa từ phía Trung Quốc giờ không được xuất khẩu. Còn đối với những mặt hàng được xuất theo chính ngạch thì nhiều doanh nghiệp vẫn còn đang rất lúng túng về những thủ tục giấy tờ theo quy định mới của Trung Quốc.

Theo ông Đào Việt Anh - Tham tán thương mại Việt Nam tại Trung Quốc - thời gian tới Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu tiềm năng của nhiều mặt hàng Việt Nam. Điều này dựa trên cơ sở nhu cầu, sức mua của người dân Trung Quốc đối với các mặt hàng nông sản, thực phẩm đang tăng cao, Chính phủ Trung Quốc khuyến khích nhập khẩu hàng hóa theo đường chính ngạch để đáp ứng nhu cầu của người dân. Thêm vào đó, Việt Nam – Trung Quốc có vị trí địa lý tiếp giáp nhau, thuận lợi trong trao đổi, vận chuyển hàng hóa với chi phí vận tải khá rẻ.

go kho cho nong san viet tim duong sang thi truong trung quoc

Bà Long Yushan - Cục Hải quan Nam Ninh, Tổng cục Hải quan Trung Quốc - cho biết, hiện nay các quy định kiểm dịch động thực vật, hệ thống và cơ chế quản lý an toàn thực phẩm của Trung Quốc rất khắt khe, đặc biệt là các quy định và thủ tục đối với các sản phẩm sữa, trái cây, thủy sản nhập khẩu vào Trung Quốc. Do đó các doanh nghiệp Việt Nam cần phải giải quyết kịp thời những vướng mắc mà doanh nghiệp hai bên gặp phải trong công tác kiểm dịch, kiểm tra an toàn thực phẩm xuất nhập khẩu đối với sản phẩm có nguồn gốc động thực vật tại các cửa khẩu.

Bà Long Yushan mong muốn trong thời gian tới, hai bên sẽ làm tốt việc hướng dẫn cho doanh nghiệp tiếp cận thị trường, hiểu rõ yêu cầu thị trường để thúc đẩy thương mại bền vững giữa hai nước Trung – Việt.

Để giải quyết những vướng mắc khó khăn cho doanh nghiệp trước những quy định mới về nhập khẩu mặt hàng nông sản vào Trung Quốc, Thứ trưởng Trần Thanh Nam nhận định, trong thời gian tới, Bộ NN&PTNT sẽ tiếp tục đẩy mạnh làm việc với TCHQ Trung Quốc để thống nhất giải quyết những vướng mắc cho doanh nghiệp, đồng thời thống nhất tổ chức các lớp tập huấn để các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về các thủ tục và các quy định mới khi xuất khẩu hàng hóa nông sản vào Trung Quốc. Hy vọng từ nay đến cuối năm xuất khẩu nông lâm thủy sản vào Trung Quốc sẽ tăng trưởng khả quan.

Hoàng Tỷ

Báo Hải quan tích cực thông tin, tuyên truyền, trao đổi, giúp các cơ quan chức năng của TP Hà Nội hoạt động hiệu quả

Với đặc trưng là cơ quan ngôn luận của Tổng cục Hải quan, từ khi xuất bản số báo đầu tiên cho đến nay, Báo Hải quan đã trở thành kênh thông tin nhanh nhạy, kịp thời, chính xác, khách quan, trung thực về hoạt động của cơ quan Hải quan và tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trong nước và quốc tế.

Báo Hải quan cũng phổ biến kịp thời chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; các quy định của ngành Hải quan và những thông tin có liên quan của hải quan các nước.

Đặc biệt, thời gian qua, nhiều vấn đề về chính sách, chế độ pháp luật và hoạt động nghiệp vụ trong lĩnh vực tài chính, ngân sách và Hải quan của TP Hà Nội đã được Báo Hải quan tích cực thông tin, tuyên truyền, trao đổi, giúp các cơ quan chức năng của Thành phố hoạt động hiệu quả, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển Thủ đô.

Nhân dịp kỷ niệm 94 năm ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2019) và 20 năm ngày xuất bản số Báo Hải quan đầu tiên, thay mặt UBND TP Hà Nội, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và lời chúc mừng tốt đẹp nhất tới toàn thể lãnh đạo, cán bộ, phóng viên, nhân viên, người lao động Báo Hải quan.

Chúc Báo Hải quan tiếp tục phát huy thế mạnh là cầu nối giữa người dân, doanh nghiệp với ngành Hải quan trong quá trình quản lý- phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu - xuất nhập cảnh; thông tin ngày một nhanh hơn, kịp thời hơn, đáp ứng được sự mong mỏi của cộng đồng doanh nghiệp cũng như toàn xã hội.

D.Ngân (ghi)

Thương mại điện tử “bắt tay” Logistics

Thương mại điện tử là một phần không thể thiếu trong sự phát triển của thị trường Logistics. Nắm bắt xu thế này, nhiều doanh nghiệp logistics đang nỗ lực đầu tư, trang bị những lợi thế cho riêng mình.

Đón đầu sự phát triển thương mại điện tử

Thời gian qua, đã chứng kiến tốc độ phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử Việt Nam với việc vươn lên top 6 trong 10 thị trường thương mại điện tử lớn nhất thế giới. Trên thị trường này, Việt Nam chỉ xếp sau những “ông lớn” như Trung Quốc, Mỹ, Anh, Nhật Bản và Đức.

Bộ Công Thương cũng đang kỳ vọng năm 2020, thương mại điện tử sẽ cán mốc 10 tỷ USD, chiếm 5% doanh thu bán lẻ. Lượng hàng hóa giao dịch qua các kênh trực tuyến tăng nhanh khiến nhu cầu dịch vụ logistics cho thương mại điện tử tăng cao và trên thực tế đang vượt quá khả năng đáp ứng. Theo dự báo của Công ty Giao Hàng Nhanh, số lượng đơn hàng tăng trưởng ở mức trung bình 45% giai đoạn 2015-2020 và có thể đạt tới 530 triệu đơn hàng vào năm 2020, với giá trị dịch vụ giao hàng đạt 472 triệu USD.

Trong điều kiện đó, các công ty thương mại điện tử lớn đều đang xây dựng hệ sinh thái của mình, trong đó logistics là một trụ cột quan trọng. Điển hình, LEL Express - công ty giao nhận trực thuộc Tập Đoàn Lazada đã đầu tư hệ thống phân loại hàng hóa tự động thứ hai với diện tích gần 1 ha, được đặt tại Trung tâm Logistics Hateco, Khu Công Nghiệp Sài Đồng B, Long Biên, Hà Nội. Hệ thống tại Hà Nội với công suất lên tới 10.000 sản phẩm/giờ được kì vọng sẽ đáp ứng sản lượng hàng hóa của Hà Nội trong khoảng 2 năm tới.

Bên cạnh đó, các trung tâm hoàn tất đơn hàng phát triển ngày càng mạnh ở Việt Nam với nhiều doanh nghiệp thành công như Viettel Post, Vietnam Post... Đồng thời, một số doanh nghiệp trẻ Việt Nam cũng bắt đầu đầu tư vào trung tâm hoàn tất đơn hàng khoảng 5 năm gần đây, trong đó Giaohangnhanh, Giaohangtietkiemlà những đại diện điển hình và thành công. Nhờ hệ thống mạng lưới điểm giao dịch và phương tiện vận chuyển linh hoạt, hoạt động sôi động tại nội thành các đô thị, các doanh nghiệp này có thể giao và lấy hàng trong 6 giờ đồng hồ.

Xung quanh vấn đề này, ông Đinh Duy Linh - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Hateco nhận định, sau một thời gian tham gia mảng logistics, Hateco nhận thấy còn nhiều khoảng trống lớn trong lãnh địa này, khi số lượng các doanh nghiệp thương mại điện tử gia tăng mạnh, cùng với nhu cầu thuê mặt bằng lưu giữ, phân loại hàng hóa, hoàn tất đơn hàng… Một số doanh nghiệp ban đầu đến Hateco còn mang tính thăm dò, nhưng hiện nay họ đang đẩy mạnh tốc độ đầu tư, đặc biệt vào những dây chuyền hiện đại nhằm gia tăng thị phần.“Chúng tôi đang cố gắng cùng với một số doanh nghiệp để làm hệ thống phân loại hàng hóa tự động, bằng robot với một kiện hàng chia tách chỉ mất khoảng 4 - 5s” - ông Đinh Duy Linh nói.

Giải “bài toán” chi phí

Theo Cục xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), thương mại điện tử sẽ phát triển bùng nổ trong những năm tới. Logistics cho thương mại điện tử cũng theo đà đó đi lên, tuy nhiên, ngành này ở Việt Nam cũng đối mặt với một số thách thức cần nhanh chóng hóa giải. Đầu tiên là áp lực dịch vụ tốt hơn và chi phí thấp hơn. Theo một nhà cung cấp dịch vụ, riêng với thương mại điện tử, chi phí logistics tại Việt Nam đang chiếm khoảng 30% doanh thu - một tỷ lệ rất cao so với các ngành nghề thương mại truyền thống. Bên cạnh đó, chi phí logistics cho thương mại điện tử tại Việt Nam cũng đang cao …

Bên cạnh đó, vận tải hàng hóa hàng không là phương tiện chủ lực trong thương mại điện tử, nhất là thương mại điện tử xuyên biên giới. Tuy nhiên, tại TP. Hồ Chí Minh và toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, khu vực đồng bằng sông Cửu Long có hàng trăm ngàn doanh nghiệp, nhưng chỉ có 2 ga hàng hóa hàng không và không có nơi nào được quy hoạch cho dịch vụ hàng thương mại điện tử.

Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics cho thương mại điện tử phải thuê các địa điểm xung quanh sân bay Tân Sơn Nhất vốn nằm xen lẫn với doanh trại quân đội hay khu dân cư, đường giao thông kết nối rất khó khăn, chia sẻ nhau hoặc tận dụng những khoảnh diện tích 2.000 - 3.000m2. Tại Nội Bài và Hà Nội, dù có không gian rộng lớn hơn so với TP. Hồ Chí Minh nhưng cũng chưa có khu vực quy hoạch dài hạn cho hàng hóa thương mại điện tử.

Đồng thời, phương tiện vận chuyển không đa dạng, thiếu và giá thành cao. Chủ yếu các nhà vận tải đang giao hàng bằng xe máy có sức chứa nhỏ, trong khi hiệu quả của xe tải không cao do chi phí đầu tư và vận hành đều cao. Trong khi đó, các dịch vụ hỗ trợ logistics cho thương mại điện tử còn yếu và thiếu, dịch vụ cho thuê phương tiện chuyển phát hàng hóa, phát triển phương tiện vận chuyển đặc thù còn chưa phát triển.Việt Nam cũng sử dụng tiền mặt nhiều nhất so với những nước khác trong khu vực Đông Nam Á. Điều này dẫn tới rủi ro cho nhân viên giao nhận khi phải mang theo lượng tiền mặt lớn.

Cũng theo Cục Xuất nhập khẩu, trong thời gian tới, Chính phủ và các bộ, ngành cần hoàn thiện khung pháp lý về thương mại điện tử và logistics cho thương mại điện tử với những chi tiết cụ thể như hóa đơn chứng từ hàng hóa đi đường, các quy định quản lý giao thông; tạo điều kiện để khuyến khích các doanh nghiệp ứng dụng và phát triển công nghệ tự động, phát triển các phương tiện “xanh” phù hợp với EC-logistics; tạo điều kiện và hỗ trợ đểthanh toán điện tử được triển khai rộng rãi tại Việt Nam, hạn chế giao dịch tiền mặt; tạo “sân chơi” để các doanh nghiệp kết nối với nhau, cùng hỗ trợ nhau phát triển…

Theo ông Trần Thanh Hải, Phó cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), doanh nghiệp logistics Việt Nam có nhiều dư địa tăng trưởng, nhưng cần phải đầu tư mạnh hơn vào công nghệ, tận dụng đòn bẩy phát triển thương mại điện tử để bứt phá.

Theo Thu Hoài/enternews.vn

    

Nhập khẩu hàng hóa Việt Nam tăng mạnh: 22 nhóm hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD

Theo Tổng cục Hải quan, tính đến hết tháng 5/2019, trị giá nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 101,55 tỷ USD. Trong đó, đã có tới 22 nhóm hàng chính đạt trên 1 tỷ USD, chiếm 80,4% trong tổng trị giá nhập khẩu của cả nước.
Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan trong tháng 5/2019, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước trong tháng 5/2019 đạt gần 45,1 tỷ USD, tăng 8,8% so với tháng trước. Tháng 5/2019, trị giá xuất khẩu, nhập khẩu đều tăng so với tháng trước, trong đó xuất khẩu đạt 21,9 tỷ USD, tăng 7,2% so với tháng trước (tương ứng tăng 1,46 tỷ USD); nhập khẩu đạt 23,19 tỷ USD, tăng 10,5% (tương ứng tăng 2,2 tỷ USD).
Kết thúc tháng 5, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 202,68 tỷ USD, tăng 8,8% (tương ứng tăng 16,47 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 101,12 tỷ USD, tăng 7,1% và nhập khẩu đạt 101,55 tỷ USD, tăng 10,6%.
Cán cân thương mại hàng hóa trong tháng 5/2019 thâm hụt 1,29 tỷ USD. Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, cán cân thương mại của cả nước đã thâm hụt 0,43 tỷ USD.
Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Liên quan đến thị trường nhập khẩu, Tổng cục Hải quan cho biết, nhập khẩu trong tháng 5 vừa qua là 23,19 tỷ USD, tăng 10,5% về số tương đối, tương đương tăng 2,2 tỷ USD về số tuyệt đối so với tháng trước. Trong đó, tăng mạnh ở các nhóm hàng như: máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; hạt điều; vải các loại; chất dẻo nguyên liệu...
Tính đến hết tháng 5/2019, trị giá nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 101,55 tỷ USD. Trong đó, đã có tới 22 nhóm hàng chính đạt trên 1 tỷ USD, chiếm 80,4% trong tổng trị giá nhập khẩu của cả nước. Với kết quả này, trị giá nhập khẩu hàng hóa trong 5 tháng/2019 cao hơn cùng kỳ năm 2018 tới 9,77 tỷ USD, tương ứng tăng 10,6% so với 5 tháng/2018.
Số liệu của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy, các mặt hàng tăng chủ yếu trong 5 tháng vừa qua là: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng. Đáng chú ý, dầu thô tăng 1,35 tỷ USD, tương ứng tăng gần 4 lần; ô tô nguyên chiếc các loại tăng 1,18 tỷ USD, tương ứng tăng 5,8 lần… so với cùng kỳ năm 2018.
Trong khi đó, ở thị trường xuất khẩu, trong tháng 5 vừa qua kim ngạch xuất khẩu đạt 21,9 tỷ USD, tăng 7,2% về số tương đối và tăng 1,46 tỷ USD về số tuyệt đối so với tháng trước.
So với tháng 4/2019, các mặt hàng tăng mạnh trong tháng là: hàng dệt may tăng 390 triệu USD tương ứng tăng 16,6%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 345 triệu USD, tương ứng tăng 13,4%; giày dép các loại tăng 263 triệu USD, tương ứng tăng 18,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác tăng 168 triệu USD, tương ứng tăng 12,6%; hàng thủy sản tăng 129 triệu USD, tương ứng tăng 20,4%...
Tổng trị giá xuất khẩu trong 5 tháng/2019 tăng 7,1%, tương ứng tăng 6,7 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, các mặt hàng tăng mạnh gồm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; hàng dệt may; giày dép các loại; gỗ và sản phẩm gỗ...
Xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam với châu Á chiếm tỷ trọng cao
Cũng theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 5 tháng đầu năm 2019, trao đổi thương mại hàng hóa của Việt Nam với châu Mỹ đạt 29,7 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm 2018 và là châu lục đạt mức tăng trưởng cao nhất trong 5 tháng đầu năm nay.
Xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam với châu Á tiếp tục chiếm tỷ trọng cao nhất (66%) trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước. Trị giá xuất nhập khẩu trong 5 tháng/2019 với thị trường này đạt 133,68 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó trị giá xuất khẩu là 51,7 tỷ USD, tăng 2,4% và trị giá nhập khẩu là 82 tỷ USD, tăng 10,9%.
Trong khi đó, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với các châu lục khác lần lượt là châu Âu: 26,23 tỷ USD, tăng 1,6%; châu Đại Dương: 3,91 tỷ USD, tăng 9,1% và châu Phi: 2,57 tỷ USD, giảm 5% so với cùng kỳ năm 2018.
Cũng theo ghi nhận của Tổng cục Hải quan, tổng trị giá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong tháng 5/2019 đạt 28,2 tỷ USD, tăng 10,8% so với tháng trước, đưa trị giá xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong 5 tháng /2019 đạt 128,19 tỷ USD, tăng 6,6%, tương ứng tăng 7,89 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2018.
Trong đó, xuất khẩu hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong tháng này đạt 15,15 tỷ USD, tăng 9,3% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu của khối này trong 5 tháng/2019 lên 70,07 tỷ USD, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước.
Tính toán của Tổng cục Hải quan cho thấy cán cân thương mại hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong tháng 5/2019 có mức thặng dư trị giá 2,11 tỷ USD, đưa cán cân thương mại trong 5 tháng từ đầu năm 2019 lên mức thặng dư trị giá 11,95 tỷ USD.
Minh Ngọc

Tham vấn một lần - giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp

Số lượng doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa đăng ký thực hiện tham vấn một lần, sử dụng kết quả nhiều lần ngày một nhiều sau cam kết tạo thuận lợi của Cục Hải quan TPHCM.

tham van mot lan giam thoi gian chi phi cho doanh nghiep
Công chức Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn KV1 hướng dẫn thủ tục cho DN. Ảnh: T.H.

Tiết kiệm thời gian, chi phí

Là một trong những DN đầu tiên tham gia thực hiện tham vấn một lần tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1, ông Phạm Tiến Lực, Phòng Kế toán Công ty Rồng Việt phấn khởi cho biết, sau khi được Cục Hải quan TPHCM chấp nhận trị giá tính thuế tham vấn 1 lần đối với mặt bếp gas nhập khẩu, hiện nay hàng hóa của DN nhập khẩu về cảng không phải thực hiện tham vấn vấn giá như những lần trước đây mà sử dụng kết quả tham vấn lần đầu để thực hiện thông quan lô hàng nhập khẩu sau. “Việc này rất thuận lợi cho DN tiết kiệm thời gian và chi phí cho DN, vì không phải đi lại nhiều lần, không phải chờ đợi, hàng được thông quan ngay khi DN hoàn tất thủ tục kiểm tra chuyên ngành”- ông Lực nhấn mạnh. Tuy có nhiều thuận lợi khi thực hiện tham vấn một lần, nhưng ông Nguyễn Tiến Lực cho rằng, quy định về thời hạn áp dụng kết quả tham vấn một lần từ 60-90 ngày như hiện nay là quá ngắn, cần quy định thời gian áp dụng kết quả từ 6 tháng đến 1 năm nhằm tạo thuận lợi hơn nữa cho DN.

Đại diện Công ty TNHH Dịch vụ thương mại Kho Đỏ cho biết, DN thường xuyên làm thủ tục nhập khẩu mặt hàng rượu vang qua cảng Sài Gòn khu vực 4. Vừa qua, với sự hướng dẫn của Chi cục, DN đã làm hồ sơ xin thực hiện tham vấn một lần đối với mặt hàng rượu vang nhập khẩu. Trên thực tế, các DN ký hợp đồng mua hàng theo năm, nhưng giá mua hàng lại ký theo mùa, nên rất khó để có giá ổn trong thời gian dài, đáp ứng điều kiện để được thực hiện tham vấn giá một lần…Từ bất cập này, DN kiến nghị, cần quy định rõ về hồ sơ xuất trình, thời hạn sử dụng kết quả tham vấn giá một lần, có DN đề nghị thời hạn áp dụng kết quả tham vấn giá một lần là 365 ngày; Cho phép DN được chọn thời gian tham vấn…

Cùng quan điểm trên, bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm, Trưởng phòng XNK- Công ty Nabodaad cho biết, Công ty Nabodaad chuyên nhập khẩu mặt hàng xe gắn máy loại phân khối lớn, mỗi tháng nhập khẩu từ 1-2 lô. Do hàng hóa nhập khẩu từ khách hàng truyền thống nên giá cả nhập khẩu luôn ổn định. Từ trước đến nay, khi hàng về cảng, công ty làm thủ tục thông quan và chọn phương pháp kiểm tra sau thông quan trong vòng 60 ngày đối với lô hàng nhập khẩu. Thủ tục khá nhanh gọn, lô hàng thông quan ngay sau khi có kết quả của cơ quan đăng kiểm. Tuy nhiên, khi biết Cục Hải quan TPHCM triển khai nghiệp vụ tham vấn một lần và được Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 tư vấn, hướng dẫn tận tình về hiệu quả của nghiệp vụ tham vấn một lần, nên công ty đang nộp hồ thực hiện tham vấn một lần. Hy vọng thủ tục thực hiện sẽ nhanh gọn, giúp DN tiết kiệm thời gian và chi phí so với việc kiểm tra sau thông quan như hiện nay…

500 DN nghiệp được ưu tiên

Theo Cục Hải quan TPHCM, đơn vị đang mở rộng triển khai thực hiện tham vấn một lần nhằm tăng cường tạo thuận lợi thương mại cho cộng đồng DN đóng góp số thu NSNN lớn cho TPHCM chấp hành tốt pháp luật hải quan theo cam kết của Cục Hải quan TPHCM tại kế hoạch “Cộng đồng doanh nghiệp và Cục Hải quan TPHCM là đối tác tin cậy, đồng hành cùng phát triển”. Đồng thời, hạn chế tham vấn giá tính thuế nhiều lần cho cùng một mặt hàng giống hệt, có giá khai báo (hoặc giá tính thuế) không thay đổi cũng nhằm giảm thời gian làm việc với cơ quan Hải quan, giảm áp lực cho công chức hải quan. Tập trung nguồn lực để kiểm tra, tham vấn các lô hàng có biểu hiện gian lận thương mại qua giá khai báo của các đối tượng xuất khẩu, nhập khẩu có nhiều rủi ro, mới thành lập. Bên cạnh đó, từng bước nâng cao vai trò, vị trí của lực lượng hải quan trong hoạt động tham vấn, từng bước thực hiện đầy đủ Hiệp định thực hiện Điều VII Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT).

Cục Hải quan TPHCM đã ban hành kế hoạch “Tăng cường tạo thuận lợi thương mại trong nghiệp vụ tham vấn giá tính thuế 1 lần, sử dụng nhiều lần” với danh sách 500 DN. Mới đây, để thực hiện hiệu quả nghiệp vụ tham vấn giá một lần nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, Cục trưởng Cục Hải quan TPHCM Đinh Ngọc Thắng yêu cầu thủ trưởng tất cả các đơn vị thuộc và trực thuộc cần nghiêm túc đánh giá lại công tác triển khai tham vấn một lần gắn liền với hiệu quả công việc, trình độ năng lực của từng công chức. Công chức làm công tác tham vấn giá tính thuế không chỉ phụ thuộc vào trình độ, năng lực mà còn phụ thuộc mức độ đầu tư thời gian nghiên cứu hồ sơ, tìm kiếm thu thập thông tin để so sánh, đánh giá nhằm đưa ra quyết định chính xác.

Đồng thời, Cục trưởng Cục Hải quan TPHCM tiếp tục phân cấp cho Chi cục trưởng Chi cục Hải quan trực thuộc chịu trách nhiệm với Cục trưởng chỉ đạo toàn diện nghiệp vụ giá tính thuế tại đơn vị mình quản lý bao gồm: tổ chức kiểm tra xác định dấu hiệu nghi vấn, tổ chức tham vấn, Thông báo xác định trị giá tính thuế, cập nhật dữ liệu vào hệ thống GTT02, báo cáo, sửa đổi điều chỉnh mức giá tham chiếu đúng thời hạn quy định. Đối với hàng hóa của 500 DN, trong quá trình làm thủ tục nếu có nghi vấn giá khai báo các Chi cục Hải quan phải tổ chức thực hiện tham vấn 1 lần. Sau khi Cục Hải quan TPHCM có ý kiến về lô hàng đầu tiên, từ lô hàng kế tiếp trở đi các Chi cục Hải quan không mời tham vấn nếu mức giá tính thuế lô hàng đầu tiên còn trong thời hạn quy định, mức giá khai báo hoặc mức giá tính thuế không thay đổi so với lô hàng tham vấn lần đầu.

Được biết, ngày 31/8/2018, Cục trưởng Cục Hải quan TPHCM đã ban hành Quyết định số 2153/QĐ-HQHCM về việc phân cấp cho các chi cục hải quan tổ chức tham vấn và tham vấn một lần, sử dụng kết quả nhiều lần đối với các lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu thuộc diện phải tham vấn phát sinh tại các chi cục theo quy định hiện hành về trị giá tính thuế. Đồng thời, Cục Hải quan TPHCM phân cấp cho các chi cục thực hiện tham vấn một lần. Tuy nhiên, thời gian đầu số lượng DN tham gia còn ít, nhưng đến nay với những cam kết tạo thuận lợi của Cục Hải quan TPHCM, số lượng DN tham gia thực hiện tham vấn một lần ngày một tăng. Hiện toàn Cục đã có hàng chục DN đăng ký tham gia, trong đó có 25 DN đã thực hiện. Riêng tại chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 có 32 DN đăng ký tham gia, trong đó có 12 DN đã thực hiện và được chấp nhận giá tham vấn một lần.

Cục Hải quan TPHCM đang chỉ đạo các chi cục tập trung tuyên truyền, hỗ trợ các DN chấp hành tốt pháp luật thực hiện tham vấn một lần…

Lê Thu